Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Kỹ thuật trồng cây quýt đường , trồng cam

I. KỸ THUẬT TRỒNG CAM , QUÝT CHO THU HOẠCH CAO

1. Cách để quýt sai quả.

Vào tháng chạp có thể tìm một con chuột to , rồi đem ngâm vào hố phân , khi con chuột trương lên thì đem trộn vào gốc cây ( phải chôn chặt để tránh gây ô nhiễm môi trường ). Bằng cách này có thể làm cho quýt ra dồi dào quả mà chất lượng quả thì rất cao.




2. Cách xây dựng vườn trồng cam , quýt.
a. Chọn giống cây


Cam , quýt có thể trồng được cả ở đất bằng và đồi núi , nhưng trồng ở đồi núi tiện lợi hơn trồng ở đất bằng , đất đồi núi thoát nước tốt , bộ rễ của cây dễ phát triển , cây lớn khỏe , tuổi thọ dài , thoáng gió và tắm nắng tốt , quả có kiên cố , ít sâu bệnh , bảo quản được lâu. Tuy nhiên , lập vườn trồng cam quýt trên đồi núi , địa hình địa mạo phức tạp , sự biến đổi của tầng đất và độ dốc nhanh , đất dễ bị rửa trôi , giữ đất và nước là yếu tố quan trọng , nên làm đồng bậc thang hoặc phải đào hố vảy cá.
Lập vườn cam , quýt trên núi nên chọn nơi có độ cao khoảng dưới 800 m so với mực nước biển , độ dốc sườn khoảng dưới 300C , lớp đất mặt dày , xốp , pH 5 , 5-5 , 6 , có nguồn nước dồi dào là tối ưu. Nơi bình nguyên hoặc ruộng nước cũng có thể lập vườn cam , quýt , nhưng phải đào rãnh thoát nước , giảm bớt lượng nước ngầm , tránh tích nước làm thối rễ.
b. Cải tạo đất
Vườn cam , quýt mới lập trên vùng đất đồi núi thông thường lớp đất canh tác mỏng , nghèo chất dinh dưỡng , sau khi làm được ruộng bậc thang từ 1-2 năm phải tiến hành cày sâu , tăng cường bón phân hữu cơ , cải tạo thổ nhưỡng. Trước khi cày sâu , cứ 666 , 7  m 2  bón 2500-3000 kg phân xanh và 25-30 kg phân lân , cày sâu 20-30 cm cho tất vườn cây.
Cải tạo đất cho mỗi gốc cây , có thể dùng thủ pháp đào hào , tức thị chứng cứ vào khoảng cách giữa các hàng , ở trung tâm của mỗi hàng mở một hào sâu và rộng chừng 1m , trong hào bón phân xanh và phân hữu cơ , sau 3-4 tháng có thể tiến hành trồng trọt , trước khi trồng 5-10 ngày bón thêm 10 kg phân hữu cơ đã ủ và 0 , 25 kg phân lân vào mỗi hố , nhớ trộn đều với lớp đất trên mặt.
c. Trồng trọt con
Cam , quýt tương đối thích bóng râm , thích hợp với trồng dày và thấp , khoảng cách cây và hàng là 3 x 4m.
Cam , quýt có thể trồng được quanh năm , quan trọng là phải trồng sau khi chồi cây đã già và trước khi cây đâm chồi đợt kế tiếp , có hai vụ trồng Ấy là vào vụ xuân và vụ thu. Ở miền Bắc thường trồng vào tháng 2-3 và tháng 10-11. Tối ưu là khi nhổ cây con từ vườn ươm đem trồng trong vườn nên có bầu đất , nếu không có đất thì phải lấy bùn nhão bọc rễ. Khi trồng , đặt cây con vào giữa hố đã được đào sẵn , bộ rễ được rải thoải mái , đắp đất xong thì hơi nương nhẹ kéo cây con lên một chút. Trồng xong phải tưới nước , cắm cành chống đổ , phủ rơm cỏ quanh gốc để giữ độ ẩm cho đất , ngắt bớt một phần lá và cành yếu , để tăng tỉ lệ sống cho cây.
3. Kỹ thuật trồng cam quýt thấp cây , mật độ dày và sản lượng cao
a. Chăm chút và quản lý cây cam , quýt thời kỳ đầu
- Quản lý: Việc quản lý trước khi cây ra quả cốt tử tập kết vào chăm chút bộ rễ của cây phát triển tốt và tán lá mở mang , đậu quả sớm.
- Chăm sóc: Nhổ cỏ , xáo đất , che phủ Đại địa quanh gốc dưới bóng cây , xúc tiến rễ cây tăng trưởng và phát triển. Trong năm thứ nhất , cốt tử dựa vào phân nước , bón ít nhưng bón thường xuyên; vào khoảng trước và sau khi cây ra lộc xuân , lộc hè và lộc thu thì bón thúc 2 lần , để xúc tiến cây to ngang và mọc ngọn mới , phát triển tán cây. Mỗi lần bón 0 , 05- 0 , 1kg Urê và phân hỗ hợp hoặc 10 kg phân loãng cho mỗi gốc. Từ năm thứ hai trở đi , dần dần tăng lượng phân bón lên. Trong thời kỳ cam , quýt sinh trưởng , nếu có cỏ dại mọc quanh gốc cây phải kịp thời nhổ bỏ , đất phải luôn tơi xốp và được che phủ bề mặt , tạo điều kiện tiện lợi cho rễ cây phát triển.
- Kịp thời loại bỏ mầm và tỉa cành: Cam , quýt sau khi trồng , ở gốc và cành thường mọc ra những cành tăm không có quy luật , ảnh hưởng đến thế cây , do đó cần kịp thời loại bỏ. Việc cắt tỉa chỉnh hình cho cây non cốt tử tiến hành khi cây phát lộc chồi , mỗi năm cây cam , quýt có thể phát lộc cành từ 3-4 lần , để mở mang tán cây. Với những chồi xuân , chồi hè hoặc chồi thu mà ra lẻ tẻ thì phải lập khắc cắt bỏ , đợi đến khi 80% chồi non đều ra nhất tề thì mới tiến hành cắt tỉa và để lại những ngọn mọc chỉnh tề. Cây ra chồi nhất tề có lợi cho việc dùng thuốc để gác canh ngọn. Đối với những cành giao nhau , những cành quá dài thì phải cắt bỏ , để nuôi dưỡng thế cây.


Cây quýt đường giống và trái quýt chín 

b. Chăm chút và quản lý khi cây cam , quýt ra quả
- Đào rộng hỗ cây để cải tạo đất: Đào rộng hố trồng để cải tạo đất có thể tiến hành vào mùa đông , phối hợp với việc dọn vườn và chôn sâu cỏ dại , lá khô , cành khô , hoặc tiến hành vào mùa hè thì kết họp với bón phân xanh cho cây.
- Bón phân và tưới nước hợp lý: Bón phân phải chứng cứ vào từng thời kỳ sinh trưởng của cây mà tiến hành , quan trọng phải nắm được 4 thời điểm:
+ Bón thúc đâm chồi ra hoa: Bón trước khi ra hoa khoảng 1 tháng ( tháng 2 đến tháng 3 ). Mỗi gốc bón 100 kg Urê pha với nước phân mục hoặc 25 kg nước bánh dầu pha loãng. Thời kì ra chồi xuân bón phần cho lá 1-2 lần , liều lượng là Urê 0 , 3% và hỗn tạp dung dịch Borax 0 , 2%.
+ Bón thúc đậu quả: bón sau khi hoa tàn , mỗi gốc bón 100g Urê và 200g KCl. Thời kỳ quả non phun 0 , 2% Urê hoặc 0 , 3% MPK cho lá 1- 2 lần.
+ Bón thúc đâm chồi nuôi quả: lần bón này là cơ sở cho việc quyết định sản lượng cao và ổn định , bón đậm phân để thúc ra chồi thu , tạo cơ sở cho năm sau cây tiếp ra hoa ổn định , song song thúc cho quả to , nâng cao năng suất và chất lượng quả của năm nay. Cuối tháng 6 đầu tháng 7 , bón phân phối hợp với xới lật đất , mỗi gốc bón 100g Ure + 250 g KCl + 20kg phân lợn + 500g lân.
+ Bón trước trổ hoa 6 tuần: 1/3 lượng đạm + 1/3 lượng kali.
+ Bón lúc quả lớn bằng ngón tay cái: 1/3 lượng đạm + 1/3 lượng kali.
Tùy theo đặc trưng đất đai ở từng vùng , có xác xuất tăng giảm lượng phân bón cho phù hợp. Cần chia tách nhau ra bón nhiều lần , để chống rữa trôi mất phân. Khi bón , nhớ đào hố hoặc cuốc rãnh nông luân phiên chung quanh tán cây. Hàng năm , nên bón bổ sung phân vi lượng cho cam , quýt như Zn , Mg , Mn trong trường hợp bón ít phân chuồng. Để giảm hiện tượng rụng hoa quả , cần dành 2/3 lượng phân bón trước khi cây ra hoa. Thực hành việc bón đón hoa , kết hợp với phun bón lá , góp phần hăng hái ngăn lại trong một giới hạn nhất định rụng hoa quả sau này.
+ Bón trước khi hái quả: Tiến hành bón trước khi thu hoạch 20-25 ngày , mỗi gốc bón 150-200g phân tổng hợp hoặc 100-150g KC1 , 150-250g lân , 500g phân bánh dầu.
Cách bón phân: Bón bên ngoài tán cây. Phương pháp gồm bón theo rãnh tròn , bón theo rãnh xòe , bón theo rãnh thẳng , bón vãi khắp vườn. Bón theo rãnh tròn thì đào rãnh theo đường tròn viền tán cây trên mặt đất , rãnh rộng từ 30-50 cm , sâu 20-30 cm , cho phân và đất bón vào trong rãnh , rồi lấp đất bằng lên.
Bón theo rãnh xòe tức là dưới tán cây cách thân cây 1 mét , đào 6-8 rãnh chung quanh cây , chĩa ra phía ngoài theo hướng rễ cây mọc , rộng 30-50 cm , sâu 20-40 cm , rãnh đào theo kiểu trong sâu ngoài nông , trong hẹp ngoài rộng. Bón rãnh thẳng , giữa các hàng cây hoặc giữa các gốc cây đào đường rãnh , rãnh rộng và sâu khoảng 30cm , phù hợp cho cây đã trưởng thành. Phương pháp bón phân khắp vườn thường ứng dụng trong những vườn cây ăn trái mà rễ cây đã lan tỏa rộng , đầu tiên rải đều phân bón ra khắp vườn , sau thời gian ấy lật vào trong đất khoảng 20-30cm. Các phương pháp này có xác xuất thay nhau tiến hành trong 1 năm. Cam , quýt là loại cây cần nước ở mức nhàng nhàng , gặp phải mùa khô khan phải kịp thời tưới nước , đặc biệt là thời kỳ lúa ra đòng ra quả. Nhưng trước khi thu hoạch từ 15-20 ngày phải Thao túng lượng nước , nâng cao chất lượng quả.
+ Bón sau thu hoạch: Bón phục sức cho cây , giúp cây tan rã mầm hoa: Vôi + tuốt phân chuồng + tuốt phân lân + 1/3 phân đạm +1/3 phân kali.
+ Giữ hoa , giữ quả: Giữ hoa , giữ quả là một phương pháp kỹ thuật quan yếu để quýt có được sản lượng cao và yên ổn. Khi hoa nở trắng , phun một lần thuốc kích thích ra hoa và phân cho lá , liều lượng như sau: thuốc “920” 0 , 002% + MPK 0 , 2% + Borax 0 , 2% + zinc vitriol 0 , 2% + thuốc phân chia tế bào pha loãng 800 lần. Khi hoa rụng được 2/3 , phun lần hai cho cây cam đường với lượng 2 , 4 D 0 , 0005% + Urê 0 , 3% + MPK 0 , 3% , sau thời gian ấy 5-7 ngày dùng Urê 0 , 3% + MPK 0 , 3% phun lần ba , hiệu quả giữ quả rất rõ rệt. Đồng thời phải loại bỏ một phần ngọn chồi xuân và tuốt ngọn chồi hè , giảm bớt sự hao hụt dinh dưỡng , chất lượng cao hơn mức bình thường cho việc giữ quả.
- Tăng cường phòng trừ sâu bệnh: Những loại sâu bệnh có hại cốt yếu của cam , quýt là: bướm cắn lá , ấu trùng ruồi trong hoa , nhện đỏ , nhện rỉ sét , rệp , bệnh lở loét , bệnh thán thư , bệnh rồng vàng...
Bướm cắn lá cốt yếu gây hại cho lá non , khi ngọn vừa mới ra phải phun thuốc , thuốc thường dùng: Clocythrin 25% , Fenvalerate 20% , Fenpropathrin 20% , pha loãng ra 6000 đến 10000 lần. Nhện đỏ có hại cho lá , nhện rỉ sét cốt yếu hại cho quả và mặt lá , dùng phương pháp phòng trừ tổng hợp là chính , sau khi thu hoạch phải làm vệ sinh vườn mùa đông , trong thời kỳ lúa ra đòng sâu bệnh phát sinh , có xác xuất trị bằng thuốc Propargite , Amiưaz , Nissorum... Thì hiệu quả tự do tương đối tốt. Rệp thì có xác xuất dùng Buprofezin , Chlorpyriíbs , Isocarbophos để phòng trừ. Bệnh lở loét có xác xuất dùng dung dịch Bordeaux mixture , Carbendazim , Methyl để chữa trị. Bệnh rồng vàng là loại bệnh mang tính hủy diệt , cốt yếu truyền qua đường ghép cành , cây non và rận trong cam quýt gây nên. Phương pháp phòng trừ là tiến hành kiểm dịch một cách nghiêm ngặt , tăng cường kiểm tra và giám sát thân cây , tăng khả năng kháng bệnh , phát hiện cây bị bệnh phải lập tức đào bỏ và tiêu hủy , tránh mầm bệnh lây lan.





Cây quýt đường trồng chậu có trái

Cung cấp cây giống quýt đường  17.000đ/cây giao hàng cả nước
Thế Giới Cây Giống. since 1993
-- 20 năm tuyển chọ giống cây trồng --

chức vị : Ấp 14 , xã Long Trung , huyện Cai Lậy , tỉnh Tiền Giang
0906194819 Hòa ( đảm trách toàn quốc )
Chi nhánh Miền Đông : Ấp 3 , xã Trừ Văn Thố , huyện Bến Cát , tỉnh Bình Dương
0988868620 Nhẫn ( đảm trách Đông nam bộ châu phi )
http://caygiongbuoi.blogspot.com/


http://www.thegioicaygiong.com/

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2014

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây dó bầu, gió bầu trầm hương

1. Đặc điểm thực vật học: cây dó bầu còn gọi là cây trầm hương, cây tóc, cây kỳ nam. Cây dó bầu cao từ 30-40m, có vỏ xám nhiều xơ, lá mọc cách, phiến lá mỏng thuôn dài hoặc bầu dục, mặt trên xanh bóng, mặt dưới xanh nhạt có lông tơ. Hoa tự hình tán, mọc chùm ở kẻ lá, màu trắng tro, quả nang, khi khô tách thành 2 mảnh, quả hình lê, mỗi quả chứa 1 – 2 hạt màu đen. Cây có tác động tạo tuyến nhựa màu đen, có mùi thơm gọi là trầm hương.







2. Điều kiện trồng cây: Khí hậu: nhiệt độ trung bình hàng năm từ 20-25OC, lượng mưa từ >1500mm/năm, ẩm độ>80%. Đất ẩm, tơi xốp, độ dày tầng đất trên 40cm,nhiều mùn. Không nên trồng trên các loại đất đá vôi, cát hoặc ngập úng.

3. Giống cây con : do quá trình khai thác bừa bãi tìm trầm, đã làm nguồn giống cây dó bầu (loại giống tỷ lệ tạo trầm kỳ cao trong tự nhiên) cạn kiệt, kéo theo một số giống dó tạo trầm khác như dó me.. cũng ít dần. Nhưng trên 10 năm qua (từ năm 1990), nguồn giống được p[hục hồi từ vườn nhà từ việc thu hạt giống, cây con tại rừng về trồng, do đó tỷ lệ lai tạp giữa các giống dó rất cao, phần lớn giữa 2 giống dó bầu và dó me.  Nhưng qua khảo sát thực tế cho thấy khi cấy tạo trầm nhân tạo giữa 2 giống dó bầu và dó me (phần lớn cây thường bị lai tạp giữa 2 giống) đều cho tỷ lệ tạo trầm khác biệt không cao. Hiện nay nguồn giống cây dó thường lấy hạt từ những cây dó trưởng thành (>7 năm) tại các tỉnh hà Tĩnh, Quảng Nam, An Giang, Kiên Giang (chưa qua khâu tuyển chọn). Nên việc chọn cây dó bầu thuần chuẩn cần có thời gian cho các nhà chọn giống.

4. Kỹ thuật sản xuất  cây con: Chọn hạt giống có chất lượng tốt, hạt đen bóng, tỷ lệ nảy mầm cao(>80%). Gieo hạt trên luống có thành phần cơ giới nhẹ như cát pha có pH5-6, giàn che tốt, chủ động điều chỉnh ánh sáng. Sau 30-35 ngày, cây mạ sẽ cất vào các bầu đất (hỗn hợp xơ dừa, tro trấu..)kích thước 12x16 cm. Bầu cây đặt trong vườn ươm có dàn che tránh bớt nắng và hạt mưa trực tiếp lên cây con sau khi cấy.  Trong thời gian 30-45 ngày đầu sau khi cấy thường xuyên tưới nước giữ ẩm cho cây, ngày tưới 2 lần, lượng nước tưới 2-4l/m2. Sau 45 ngày đến khi cây xuất vườn lượng nước tưới giảm dần 3-5 ngày/ lần. Cây trong vườn ươm cần chú trọng đảo bầu cây khi cây ra rễ khỏi bầu thường 1lần /tháng. Giai đoạn này bón phân vào lúc chiều mát, bón xong phải tưới nước ngay để rửa sạch cây, lá. Phân bón DAP với nồng độ 1-1,5% với 2lít/m2, chỉ tưới cây từ 2 tháng tuổi trở lên, 15 ngày/ lần.

 Phòng trừ sâu bệnh : bệnh thường là lở cổ rễ, thối thân, phấn trắng, cháy lá.., các thuốc sử dụng trị bệnh là Brocdeau, Basudin hoặc Baylidin theo hướng dẫn ở bao bì. Các loại sâu ăn lá, sâu đục thân có thể dùng thuốc nội hấp hoặc thuốc tiếp xúc để phòng trừ. Cây xuất vườn xanh tốt, thân thẳng, không cụt ngọn, cây cao >50cm, đường kính cổ rễ >0,4cm và bầu cây không bị mục nát đứt rễ.

5. Kỹ thuật trồng cây: đất trồng cây nên chủ động nước tưới, tránh mưa lụt úng (>1giờ).

a. Đào hố trồng: Kích thước: 40x40x30cm. Khi đào hố phải để lớp đất mặt sang 1 bên. Đào hố trước khi trồng 1 tháng sau đó lấp hố theo quy định lớp đất mặt trộn phân lắp xuống trước. Lượng phân NPK từ 0,3-0,5 kg/ hố, nên trộn với phân hữu cơ 1kg/ hố.


b. Mật độ cây trồng: tuỳ loại đất có thể chọn các loại mật độ sau:  625 cây/ha: với cự ly 4x4 m; 800 cây/ha: 2,5x5 m; 1160 cây/ha: 3x3 m. Nếu trồng xen trong vườn cà phê, điều, nhãn, tiêu… mật độ từ 250 -500 cây.

c. Kỹ thuật trồng: cây đủ tiêu chuẩn trồng, tiến hành trồng sau những trận mưa đầu mùa  mưa. Trồng vào những ngày mưa nhỏ, thời tiết mát dịu, ẩm là tốt. Bố trí cây trồng hình nanh sấu, chống xói mòn. Bóc vỏ bầu nylon, đặt bầu sâu hơn lớp đất tự nhiên 1-2cm. Đặt cây ngay ngắn giữa hố, lấp đất và nén chặt, vun gốc cao hơn mặt đất thường 2-3cm là vừa. Sau khi trồng xem xét dẫy cỏ quanh gốc, vun xới nhẹ nhàng chung quanh gốc cây đường kính 1-1,2m. Bón phân 2 lần vào năm 1 và năm 2 hai lần/năm với lượng phân NPK 100gr/cây. Các năm sau chỉ làm cỏ, xới đất quanh cây, tỉa bớt cành tạo dáng cho cây vươn cao, không cần bón phân vô cơ, nên tạo độ ẩm xung quanh gốc bằng phân hữu cơ.

6. Bảo vệ cây trồng: cây dó có độ tuổi trên 4 năm (đường kính>15cm) có thể cấy tạo trầm. Nên việc bảo vệ cây đến tuổi thu hoạch cần nên: Chú ý trâu bò chăn thả ăn cây con. Phòng chống cháy nhất l2 trong mùa khô hạn.

cung cấp cây giống dó bầu 6.500đ/cây 

Thế Giới Cây Giống . since1993

20 năm tuyển chọn giống cây trồng 

0988868620 - 0906194819
http://caydobau.blogspot.com/

Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2014

Kỹ thuật trồng và nhân giống cây bơ sáp


cung cấp cây giống bơ sáp da xanh 19.000đ/cây , giao hàng cả nuớc,  0988868620 Nhẫn


I. Phương pháp nhân giống Bơ



Cây bơ có tính tạp giao rất mạnh giữa các giống nên vấn đề nhân giống hữu tính (bằng hạt) không phải là phương pháp tối ưu. Do đó vấn đề đặt ra cho công tác giống cây bơ là tìm ra các phương pháp nhân giống vô tính có hiệu quả nhất. Có thể kể đến các phương pháp sau:










1. Giâm cành: Phương pháp này đã được nghiên cứu thực hiện. Cây bơ có thể ra rễ và có thể không cần phun sương mù, nhưng kỹ thuật phức tạp chưa thông dụng và phổ biến nên cách làm này ít áp dụng.



2. Chiết rễ: Theo Nguyễn Cao Ban (1956), bơ có thể nhân giống vô tính bằng cách chiết rễ. Cách làm như sau: trên mặt đất, chung quanh gốc cây mẹ, chọn những rễ có đường kính cỡ 1cm, khía một đoạn vỏ, tách bỏ để làm gián đoạn mạch dẫn. Sau một thời gian, đoạn rễ sẽ đâm chồi và được đánh đi trồng. Phương pháp này sẽ làm tốn sức cây mẹ, gây bệnh cho rễ và hệ số nhân giống thấp nên ít khi áp dụng.



3. Ghép cây: kỹ thuật đơn giản như đối với một số loại cây ăn quả khác. Thường áp dụng hai cách ghép mắt và ghép cành; nếu ghép cành thì cành ghép thường là cành có ngọn. Tỷ lệ sống của phương pháp ghép này thường đạt 70-90%. Tốt hơn hết nên chọn những giống kháng bệnh thối gốc rễ làm gốc ghép để đạt hiệu quả kinh tế cao trong việc nhân giống trồng trên quy mô lớn. Ngoài việc phối trí để có bộ giống thích hợp, cần chọn cây mẹ lấy cành ghép có các đặc điểm năng suất cao và ổn định, không có xu hướng ra trái quá sức, trái cỡ vừa, phẩm chất ngon, thích nghi với khí hậu địa phương, có khả năng kháng bệnh...



Trong các phương pháp nhân giống vô tính trên đây, phương pháp ghép cây hiện nay được xem là phổ biến và có hiệu quả nhất.









II. Cách trồng và chăm sóc bơ



Bơ là cây to, đặc biệt giống Ăngti, nên ở các vùng thấp như­ Đông Nam Bộ, nên trồng cách nhau 8m, 10m. ở Lâm Đồng, Đắc Lắc độ cao 400 - 500 m trở lên có thể trồng dày hơn một chút.



Khí hậu miền Nam nói chung là nóng và ẩm và trồng bơ trư­ớc hết phải chú ý vấn đề thoát nư­ớc, vậy nên chọn các đất dốc. Khi bỏ phân vào hố, phải dùng phân hoai, sạch vì bơ rất dễ bị bệnh Phytophtora và phân chưa hoai, có thể mang mầm bệnh. Phải đào hố vào khoảng tr­ước Tết, để trồng vào đầu mùa m­ưa, đất kịp ải, phân kịp hoai, cây khoẻ ít bệnh. Trồng xong, phải chăm t­ưới những ngày đầu để cây chóng bắt rễ. Bơ có bộ rễ ăn nông, nên mặt đất phải sạch cỏ.



Những năm đầu cây còn nhỏ, có thể trồng xen một số cây hàng năm chỉ làm cỏ quanh gốc. ở miền Nam, mùa khô gay gắt, nên những năm đầu tủ gốc bằng rơm rạ, cỏ khô, xơ dừa, vừa chống cỏ, vừa giữ ẩm.



1. Tưới nước: chỉ cần vào mùa khô, vì quả lớn trong vụ khô. Bơ dễ bị bệnh rễ, tránh t­ưới bồn là ph­ương pháp vẫn dùng ở miền Nam mà chỉ dùng vòi, tốt nhất là phun mưa nh­ưng với l­ượng nư­ớc vừa phải.



2. Phân bón: rất cần vì bơ lấy đi từ đất nhiều chất dinh dưỡng. Theo Avilon (1986) một sản lư­ợng bơ là 14.386 kg/ha lấy đi khoảng 40kg N, 25kg P2O5, 60kg K2O, 11,2kg CaO và 9,2kg MgO. Phân đạm th­ường có tác dụng lớn nhất đối với bơ. Nói chung, bơ non ch­a ra quả thì bón NPK theo tỷ lệ 1:1:1 và cây lớn có quả thì tỷ lệ đó là 2:1:2.



Bón phân chuồng bao giờ cũng có lợi và bón vào sau vụ thu hoạch tháng 7, 8. L­ượng bón khoảng 10 tấn/ha và vẫn phải bón phân hoai.



3. Đốn tỉa: chủ yếu là vườn ương, với mục đích tạo hình, những giống bơ chủng Ăngti, sinh trưởng ngọn mạnh nên bấm ngọn, tạo cành khung khoẻ.



Khi cây đã lớn, đương ra quả không nên đốn nhiều vì làm giảm sản l­ượng. Chỉ cắt bỏ những cành sâu bệnh, những cành vượt mọc từ thân chính, cành gãy do gió mạnh, do mang nhiều quả. Cũng có những cây bơ chủng Ăngti mọc quá cao khó thu hoạch, phải đốn ngọn, cho phát triển về chiều ngang.



4. Phòng trừ sâu bệnh:



- Sâu: không gây thiệt hại nghiêm trọng. Một số bọ trĩ hại lá, rệp sáp hút nhựa, mọt đục thân và cành khung, trên quả có nhện đỏ. Thiệt hại thường nhẹ. Phòng trị không mấy khó khăn, nh­ưng phải phát hiện sớm, năng thăm vườn bơ.



- Bệnh: bệnh nguy hiểm nhất cần cảnh giác là bệnh thối rễ do nấm Phytophtora gây ra. Cây bơ trồng trên đất nặng khó thoát nước, trên đất pH cao hay bị bệnh nhất. Đã có nhiều tìm tòi về các phương pháp phòng trị vì bệnh này gây hại lớn, làm chết cả cây và từng mảng vườn.



- Cách trị triệt để: tìm các gốc ghép chống bệnh, nhưng đến nay chư­a có kết quả cụ thể. Có gốc ghép chống chịu đ­ược nhưng tiếp hợp khó khăn; có gốc ghép tiếp hợp dễ nhưng chống bệnh yếu.



- Phòng trị hoá học: Trong thời gian 1970 đến 1974 ở Viện Quả Hải ngoại của Pháp dùng Dixono t­ới vào gốc một số cây, theo từng thời kỳ đã đ­ược xác định trước, số cây chết có giảm đi nhưng vẫn chưa ngăn cản được bệnh. Dùng Ridomil trộn với đất tr­ước khi trồng (1g chất hữu hiệu cho 10 kg đất, hoặc tưới lên mắt đất quanh cây bơ con chư­a ra quả có thể phòng đ­ược bệnh thối rễ ít nhất 4 tháng.



Để phòng bệnh thối rễ do Phytophtora, nên áp dụng các biện pháp tổng hợp sau đây:



- Chọn giống, tìm các gốc ghép chống chịu.



- Dùng các hoá chất diệt nấm phun lên cây (phun và trộn với đất để làm cho nấm phát triển chậm lại).



- Chọn đất kết cấu tốt, thoát nước nhanh, pH = 6 hoặc dưới 1 chút.



- Trồng bằng cây giống không bệnh.



- Nước tưới cây sạch, không tưới thẳng vào gốc cây.



- Trồng cây trên những ụ đất cao hơn chung quanh khoảng 30 cm.



- Phát hiện trên thân cây gần mặt đất những vết thối do nấm thì cạo sạch. Quét vôi trộn phèn xanh hoặc thuốc chống nấm.





5. Thu hoạch - tiêu thụ:



Xác định thời gian thu hoạch bơ khó vì quả bơ chín không khác gì quả bơ xanh, trừ tr­ường hợp ở một số giống vỏ chuyển sang màu đỏ. Thu hoạch bơ xanh, dù để lâu không chín thêm, vỏ chỉ răn lại, thịt không mềm, mà cứng như cao su. Ng­ười trồng bơ thường chờ đến khi có vài ba quả tự rụng rồi hái hết cây, chỉ để lại những quả bé, vỏ còn xanh. Phương pháp này tuy chưa chính xác nh­ưng dễ áp dụng. ở các trại thí nghiệm xác định độ chín bằng cách phân tích tỷ lệ dầu, rồi đối chiếu với tỷ lệ dầu khi chín để thu hoạch. Cũng có thể xác định tỷ lệ chất khô (105oC trong 3 giờ).


Thu hoạch bằng sào, bằng rọ. Có khi ngư­ời ta leo lên cây rồi rung từng cành nhỏ. Quả nào chín thì rụng.



Quả bơ không chín trên cây. Sau khi thu hoạch tuỳ điều kiện, có thể bảo quản đ­ược một thời gian dài hay ngắn, như­ng cũng không quá vài tuần lễ.



Độ nhiệt bảo quản từ 5 - 13oC tuỳ giống. Giống chịu lạnh bảo quản ở nhiệt độ thấp, giống không chịu lạnh, ở độ nhiệt cao hơn. Độ ẩm không khí nơi bảo quản giữ trong giới hạn 85 - 90%.



Trước khi bán cho ng­ười tiêu dùng phải cho quả bơ chín ở độ nhiệt cao hơn ở nơi bảo quản.


ở nhiệt độ 20oC bơ chín sau 6 - 12 ngày, ở độ nhiệt 25 - 27oC quả chín sau 5 - 7 ngày.



Khuyến nông Lâm Đồng, 29/7/2010



cung cấp cây giống bơ sáp da xanh 19.000đ/cây , giao hàng cả nuớc 



Thế Giới Cây Giống . since 1993





20 năm tuyển chọn giống cây trồng







Địa chỉ : Ấp 14 , xã Long Trung , huyện Cai Lậy , tỉnh Tiền Giang



0906194819 Hòa ( phụ trách toàn quốc )



Chi nhánh Miền Đông : Ấp 3 , xã Trừ Văn Thố , huyện Bến Cát , tỉnh Bình Dương



0988868620 Nhẫn ( phụ trách Đông Nam Bộ)



http://giongbosap.blogspot.com/





Thứ Năm, 30 tháng 1, 2014

Kỹ thuật trồng và chăm sóc ổi lê Đài Loan


Ổi lê Đài Loan là cây trồng dễ tính, sinh trưởng khỏe, chịu thâm canh, nhanh cho quả, quả to, ít hạt, trọng lượng quả lớn, trung bình quả 250-300gam, thâm canh tốt đạt 350-400gam, riêng quả ra lứa đầu (ổi tơ) đạt tới 500-700gam/quả. Khi chín thịt quả giòn, mềm, mùi thơm nhẹ, vị ngọt mát, giàu dinh dưỡng. Thâm canh ổi lê Đài Loan quan trọng nhất là tỉa cành tạo tán và bao quả, cách làm có thể tiến hành như sau





1. Đất trồng: Chân ruộng nào cũng trồng được ổi lê Đài Loan, nhưng tốt nhất là trồng trên ruộng đất thịt trung bình, chất lượng quả sẽ cao hơn. Yêu cầu ruộng trồng phải tưới, tiêu chủ động.


          2. Thời vụ: Ở các tỉnh miền Bắc nên trồng từ tháng 2-4 hoặc tháng 8-10.
          3. Kỹ thuật trồng: Trồng bằng cây ghép hoặc cành chiết, chọn mua cây khỏe, sạch bệnh, đúng giống, nếu là cây ghép phải tỉa bỏ các mầm cây phát sinh bên ngoài mắt ghép; lên luống để rãnh tiêu nước; đào hố hình vuông hình khối: 50 x 50 x 50cm, hố cách hố: 3 x 4m, mật độ trồng: 30-35 cây/sào (360m2).
+ Bón lót cho 1 hố: 0,5kg vôi bột + 1kg Super lân + 0,5- 0,7kg NPK (16-16-8) + 4-5kg phân gia cầm hoai mục; vôi bột rải lót đáy hố, phủ lớp đất mỏng, số phân còn lại trước khi đưa tiếp xuống hố cần trộn đều với lớp đất mặt; khi trồng gỡ bỏ túi nilon bao bầu; đặt cây trồng ngay ngắn giữa hố, lấp đất kín tới 5-7cm gốc ghép; nén nhẹ rồi tưới đẫm nước. 

+ Bón thúc: 2 năm đầu định kỳ bón cho mỗi gốc 0,5-1kg phân AT1 (18.14.7); từ năm thứ 3 chuyển sang khai thác quả, tốt nhất để dưới gốc cây 1 bao phân gia cầm 25-30kg (tận dụng vỏ bao lân, đạm để đựng), miệng bao buộc kín, đáy bao đục 1 vài lỗ nhỏ, mỗi lần bơm nước dưỡng cây, tưới đẫm vào bao cho rỉ nước phân xuống đất, rễ cây hút; 4-6 tháng thay 1 bao phân mới, phân cũ rải ra vườn; ngoài ra sau mỗi lần bao quả bón thúc thêm mỗi cây 0,3-0,4kg Kali sunfat hoặc Kali clorua để tăng chất lượng quả. Những nơi không có phân gia cầm có thể thay bằng phân bón AT2 (10.15.15), liều lượng 1-2kg/gốc (bón giai đoạn cây mang quả).  Sau trồng 8-12 tháng cây đã bắt đầu ra hoa, đậu quả, tuy nhiên trong 1,5- 2 năm đầu không nên khai thác quả ngay, để tập trung dinh dưỡng nuôi cây và tạo hình cho cây. Ổi lê Đài Loan là giống sinh trưởng khỏe, quả to, sinh khối lớn nên có thể đầu tư phân bón cao để khai thác năng suất mà không lo lốp đổ, nhưng phải chăm bón cân đối.
           3. Tạo hình cho cây: Đây là việc làm cần thiết trong suốt quá trình khai thác quả trên cây; cần bấm ngọn sớm để cây phát sinh các cành cấp I ở các vị trí thân cây dưới 1m (tính từ gốc); cắt tỉa để lại 3-5 cành cấp I phân đều ra các hướng; trên các cành cấp I tỉa bỏ các cành tăm, cành mọc sâu vào trong tán; hạ thấp chiều cao cành xuống dưới 1,5m -1,7; tạo thế cây phát triển cân đối, thuận tiện chăm sóc, thu hoạch và tăng khả năng chống đổ. Ổi lê Đài Loan có thể ra quả quanh năm trên các mầm cây bật từ nách lá, cây càng nhiều mầm nách càng nhiều quả. Để có nhiều mầm nách người ta thường làm trẻ hóa cây bằng cách gây tổn thương cơ giới: Sau mỗi lần kết thúc thu quả lại bấm ngọn hoặc vít cành, tùy theo vị trí của cành để xác định cách bấm tỉa, hay vít cành cho hợp lý, đối với các cành vượt cao quá tầm với thì dùng kéo cắt hạ thấp độ cao, đối với các cành vượt ngang ngoài tán nên dùng dây mềm buộc vít cong cành vào phía trong; các cành còn lại chỉ ngắt bỏ 5-10cm ngọn cành, trên các cành vít cong, cành bấm tỉa sẽ phát sinh các mầm mới, thêm hoa, nhiều quả. Cần kết hợp hài hòa giữa cắt tỉa với vít cành để tránh gây tổn thương nhiều cho cây, tiêu hao năng lượng, yếu cây, giảm năng suất.
          4. Khai thác quả: Sau khi cây tắt hoa 10 ngày (đường kính quả 0,5-1cm), tiến hành tỉa định quả, tỉa bỏ các quả còi cọc, quả sâu bệnh, để lại 1 quả trên chùm có trên 2 quả; tùy theo cây khỏe hay yếu mà xác định lượng quả để lại trên cây cho hợp lý, cành yếu, cành vượt để ít quả, cành khỏe, cành ngang để nhiều quả. Để có quả to, hợp thị hiếu người tiêu dùng, bán được giá thì cây 2-3 năm tuổi nên để 60-80 quả/cây; cây 4-5 năm tuổi để 200-250 quả/cây. 
          5. Phòng trừ sâu bệnh: Trên giống ổi lê Đài loan có 3 đối tượng sâu bệnh gây hại chính là sâu róm, rệp sáp và ruồi đục quả, cần áp dụng phương pháp phòng trừ tổng hợp, để bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm:
          Sâu róm: Trong năm thường xuất hiện với mật độ cao từ tháng 2-4, hại hoa, quả non và mầm ngọn, có thể phun trừ hiệu quả bằng thuốc Sherpa 2-3%, Trebon 2%...
          Rệp sáp: Trích hút dịch cây, gây hại các lá non, lộc non và quả cây, sử dụng Suprathion 40EC hoặc Bassa để phun trừ, nên hỗn hợp thuốc phun trừ với bệnh sương mai và sâu róm;



          Ruồi đục quả gây hại quả trong suốt quá trình phát triển của quả, ruồi đục vỏ quả, đẻ trứng vào đó, hóa dòi đục ăn vào ruột quả, phòng trừ không kịp thời có thể thất thu cả vườn quả. Phòng trừ đối tượng này rất hiệu quả bằng cách bao quả sớm;
          * Kỹ thuật bao quả (kết hợp với quá trình tỉa định quả trên cây): Bao quả bằng 2 túi, lưới xốp và nilon trắng kích thước 10 x12cm, lồng 2 túi vào nhau, trong lưới xốp, ngoài bao nilon, đáy đục vài lỗ nhỏ để thoát hơi nước, tránh thối quả; đưa miệng túi vào bao quả, dùng băng dính kín miệng tới cuổng quả hoặc 1 phần cành, như vậy sẽ đảm bảo cho đến khi quả chín không bị nhiễm bất cứ sâu bệnh nào, ngăn chặn được mọi yếu tố độc hại có thể tác động từ môi trường, sản phần đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Có thể tận dụng túi lưới xốp bao hoa quả ngoài chợ để bao ổi, tiết kiệm chi phí, nhưng phải xử lý túi trong dung dịch xút (nước xà phòng) để diệt trừ tồn dư sâu, bệnh; Chú ý, ngay khi cây tắt hoa phải phun phòng một số sâu bệnh: Ruồi đục quả, rệp sáp, bệnh sương mai... sau 10 ngày tỉa bao quả và tỉa định quả; trong 1-2 năm đầu, vườn cây chưa khép tán, có thể trồng xen các cây: Cà Pháo, ớt, lạc, đậu tương hoặc đậu xanh để tăng thu nhập, giữ ẩm cho đất, chống xói mòn và hạn chế cỏ dại.

B




          5. Thu hoạch quả: Ổi lê Đài Loan tăng trọng rất nhanh, từ khi cây tắt hoa, đậu quả đến chín khoảng 35-45 ngày tùy mùa vụ, cần kiểm tra thu hoạch kịp thời, khi vỏ quả chuyển từ màu xanh sang màu sáng (gần với màu vàng chanh), dùng kéo cắt sát cuống, gỡ bỏ túi nilon bao ngoài, để nguyên túi lưới xốp, xếp vào thùng xốp hoặc caton đưa đi tiêu thụ.
Bằng cách làm này, nhiều gia đình nông dân xã Liên Nghĩa (Văn Giang-Hưng Yên) đã cho thu hoạch 15-25 triệu đồng/1 sào trồng ổi lê Đài Loan/1 năm, vì sản phẩm quả được người tiêu dùng ví như ổi sạch./.
Theo          Thạc sĩ-NGUYỄN HẢI TIẾN

 Vườn mẫu ổi Đài Loan 2ha tại Bến Cát , Bình Dương cung cấp cây giống 15.000đ/cây , giao hàng cả nước

The Gioi Cay Giong . since 1993 
-- 20 năm tuyển chọn giống cây trồng -- 
0906194819 - Hòa  ( phụ trách toàn quốc) 
0988868620 - Nhẫn ( khu vực Đông nam bộ ) 

ĐC :Ấp 14 - Long Trung -Cai Lậy - Tiền Giang
Chi nhánh Bình Dương : Ấp 3 - Trừ Văn Thố Bến Cát - Bình Dương
http://www.thegioicaygiong.com/
www.oidailoan.blogspot.com

Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Kỹ thuật trồng quýt đường , cam , bưởi

I. Điều Kiện Sinh Thái
   1.Nhiệt độ:    Nhiệt độ: Cây có múi (cam, quít, bưởi) có thể sống và phát triển được trong khoảng nhiệt độ 13 – 380C, thích hợp nhất là 23 – 290C. Dưới 130C cây ngừng sinh trưởng, dưới âm 50C cây sẽ bị chết.